Tranh của Laila Carlsen
Byron , thi sĩ người Anh vào thế kỉ 19 , từng than rằng : ở giữa thiên nhiên, trong rừng cây, trên cánh đồng cỏ, bên cạnh hồ, ông không bao giờ cảm thấy cô đơn, chỉ khi ở trong thành phố, giữa những con người , ông cảm thấy cô đơn .
Ý tưởng này dẫn đến một kiểm nghiệm , như một thực thể sống, con người nhận biết sự cô đơn , và chỉ cô đơn giữa cộng đồng mà thôi.
Không cần giải thích , con người của thế kỉ 21 tự nhận ra cái trạng thái rối ren và ê chề này, trạng thái bị đánh mất : hắn biết hắn đang sống trong mâu thuẫn, bởi cảm giác cộng đồng mâu thuẫn với sự cô đơn, và sự cô đơn mâu thuẫn với cảm giác cộng đồng.
Con người vốn mâu thuẫn với chính bản thân nó. Và dấu hiệu của trạng thái bị đánh mất đó là : con người nằm giữa hai cái : bản năng và bản ngã , không ở trong cái nào, nó chống lại cả hai và đứng ngoài cả hai.
Sự lẩn tránh xã hội , sự chống lại xã hội . Xã hội và cái tình trạng xã hội xảy ra bên ngoài xã hội. Con người còn lại một mình ở nơi các mối quan hệ người , mở ra các khả năng vô-tận-không-biết . Sự tiếp xúc bị đứt đoạn ở nơi mà mọi thứ đều nhằm để xây dựng sự tiếp xúc. Đó là trạng thái bị rơi ra khỏi cộng đồng , là sự cô đơn.
Cô đơn không phải là kinh nghiệm tâm lý một mình , bởi vì không có kinh nghiệm tâm lý một mình.. Các kinh nghiệm chỉ có thể hiểu và nhìn rõ từ những tương quan cuộc sống hiện thực. Bởi vậy , giải thích sự cô đơn bằng tâm lý sẽ là luôn luôn khiếm khuyết . Nhất là khi sự cô đơn xuất hiện ngày càng ở trình độ cao hơn, bởi cô đơn không là một trạng thái chủ quan nữa , mà là một hoàn cảnh khách quan.
Bằng việc giải thể kinh nghiệm , loại bỏ những mâu thuẫn bên trong , hay bằng sự can thiệp của tâm hồn , vẫn không ai giải quyết nổi sự cô đơn của mình , thậm chí không ai hiểu nổi cái hoàn cảnh riêng của chính mình.
Giải thích bằng tâm lý những yếu tố đời sống đơn giản nhất cũng vẫn khiếm khuyết, vì thế giới nơi con người sống , được coi như một tình cờ, và mọi bất trắc luôn chĩa mũi nhọn vào con người , cho dù không phải lỗi tại nó. Và quan điểm tâm lý học luôn thất bại khi nói về phân tâm học của cảm giác cô đơn.
Trong cô đơn , con người còn lại với mình , hắn muốn biến cái thuần túy cô đơn thành tâm hồn, mọi liên hệ khác đứt đoạn, hắn đứng một mình , như một thực thể ngoài thế giới, toàn bộ cuộc sống của hắn tuôn chảy bên trong , hắn chỉ sống một đời sống tâm lý của hắn mà thôi.
Nhưng toàn bộ khuynh hướng của đời sống tâm lý này vẫn liên quan đến thế gian. Toàn bộ tâm hồn hắn hướng ngoại , và vì thế , vấn đề của cô đơn chính là sự bất lực của sự hướng ngoại của chính hắn . Đó là lí do mà các thiền giả chủ trương quay cái nhìn hướng nội về tìm kiếm cái bổn tâm của mình , và trong trường hợp này , họ trở thành những người cô đơn trong mắt cộng đồng .
Không ít nhà đạo đức , nhà tâm lí đã cho rằng cuộc sống khi quay vào bên trong , là một sự bế tắc : vì số phận của cuộc sống là ở thế gian . Có lẽ vì vậy mà tâm lý học không thể giải quyết , cũng như không thể hiểu được sự cô đơn.
Nếu số phận của con người chính là thế gian , là môi trường sống , và trước hết là cộng đồng , thì ta có thể nói : sự cô đơn cũng là vấn đề của Xã hội học.
Nơi đâu có cô đơn, ở đó luôn có mối quan hệ bị tách rời khỏi cộng đồng , và sự còn lại một mình. Điều an ủi có lẽ là : có vẻ như sau một giới hạn tạm thời của thời gian , con người sẽ lấy lại nghị lực sống và quay trở về với cộng đồng. Trong mọi trường hợp , mối quan hệ bị đánh mất luôn luôn tiêu cực và đau đớn.
Sự thu mình , trạng thái cô đơn tự nguyện và cô đơn từng phần , có thể mang đến sức mạnh, sự an toàn, sự yên tĩnh và sự cao quý nào đó . Cô đơn từng phần mang đến sự tách biệt, nhưng các mối quan hệ vẫn còn nguyên. Còn trong trường hợp mối quan hệ bị đánh mất, trừ ngoại lệ, con người bao giờ cũng đau khổ.
Đây là sự khác biệt giữa cô đơn cố ý, giữa cô đơn vì sự biệt lập và cô đơn vì bị từ bỏ.
Ở tù là một sự từ bỏ của xà hội dành cho kẻ bị kết tội . Có thể hiểu, hình phạt bỏ tù, như một cách bảo toàn xã hội, nhưng trong hình phạt này ẩn náu cả hình phạt tâm lý. Nhà tù là nơi xã hội cắt đứt quan hệ với con người bị kết tội , xử phạt hắn phải cô đơn. Tất cả những người tù đều là kẻ cô đơn .
Sự cô đơn tự quyết của kẻ bất lương thì khác . Hắn xác định vị trí của hắn trên thế gian. Vấn đề của kẻ bất lương luôn là vấn đề của kẻ cô đơn đứng bên ngoài xã hội.
Kẻ bất lương muốn hoàn lương, tu tỉnh, quay về xã hội lần nữa, mang theo tội lỗi của mình, và cần phải thỏa mãn với vị trí mà cộng đồng muốn xác định cho nó. Hoặc nó đứng bên ngoài và bị tiêu diệt. Hoặc liên kết với những kẻ có số phận tương tự và tạo ra một xã hội chống đối, nơi có thể tạo ra các mối quan hệ đồng bọn , có thể còn khăng khít hơn cả trong cộng đồng lớn. Đấy là ý nghĩa danh dự của kẻ cướp. Trong sự dựa dẫm lẫn nhau của những kẻ sống bên ngoài cộng đồng lớn, sự cô đơn không bao giờ chấm dứt, bởi vậy họ cần duy trì luật lệ nghiêm khắc và vô điều kiện , để cố kết những mối quan hệ ràng buộc lẫn nhau một cách điên rồ .
Nhưng trong nỗi cô đơn của kẻ bị bệnh điên thì không có vai trò của xã hội . Những sợi dây liên hệ xã hội của người điên vẫn tồn tại, nhưng số phận bắt buộc hắn phải sống trong một sự lưu đày tạm thời . Sự lưu đày này là hoàn cảnh bắt buộc bên trong của người mắc bệnh thần kinh , người ta mặc kệ hắn , không bắt hắn tham dự vào những sự kiện của cuộc sống .Người ta để cho hắn điên tự do .
Đặc điểm của bệnh điên là sức sống bị suy giảm một cách chủ quan. Nhìn từ quan điểm của cộng đồng thì đó là sự sợ hãi, sợ tiếp xúc với những người khác. Kẻ mắc bệnh điên có biểu hiện ngu ngơ, im lặng, hoảng loạn , sợ hãi , hoang tưởng tượng và đầy lòng nghi ngờ. Mọi biểu hiện của nó đều tiêu cực đối với cộng đồng. Đó là sự cắt đứt, sự xa lánh, sự biệt lập.
Các nhà xã hội học cho rằng tất cả những vấn đề cô đơn nói trên có thể giải quyết được trong một xã hội tốt đẹp. Một cộng đồng lành mạnh có thể giải quyết mọi vấn đề bằng các khả năng của nó .Vấn đề chỉ bắt đầu trong một xã hội vô phương cứu chữa với các con bệnh cô đơn.
Thế nhưng , những biểu hiện biệt lập không nhất thiết nổi lên từ sai lầm của con người hay của cộng đồng . Một số người không hề là kẻ bất lương , không hề bị bệnh điên mà vẫn bị xã hội bỏ rơi . Họ trở thành kẻ cô độc .
Xã hội luôn có khuynh hướng xếp những kẻ cô độc này vào những sự phân chia đã có sẵn. Kẻ nào lẻ loi một mình , kẻ ấy bị nghi ngờ hoặc là bất lương , hoặc là điên. Sự kết án sai lầm này càng làm cho tình cảnh trầm trọng hơn . Kẻ cô đơn cảm thấy bản án dành cho mình là vô lý , hắn bèn phản đối . Vì cộng đồng không hiểu tại sao lại nảy sinh ra sự phản đối này , thế là cộng đồng áp dụng những phương cách đã có sẵn , đó là cưỡng chế. Con người cô đơn và cộng đồng bắt đầu đối đầu với nhau.
Người ta cũng nói về sự cô đơn của những nhà độc tài , sự cô đơn này nếu có , thì đó là là sự cô đơn ma quỷ : là sự tiêu cực với những ý đồ tối tăm, ác ý, hư hỏng và đối địch, của những kẻ phạm tội ác diệt chủng , kể cả khi nó chỉ là sự cô đơn câm lặng của những kẻ sáng lập hệ tư tưởng cho những điều ác .
Sự cô đơn ma quỷ làm tha hóa cộng đồng. Nó muốn tạo một cuộc sống sinh trưởng ngoài cộng đồng, đưa ra sự quyến rũ về một lí tưởng tiêu diệt xã hội có sẵn để xây dựng một xã hội mới nào đó , được coi như một sự đòi bồi thường của đời sống , hình thức cô đơn ma quỷ này tuyên bố nó là sự mơ mộng.
Mơ mộng là bản sao của một đời sống tích cực , và khi nó có khuynh hướng áp đảo, nó gây nguy hiểm cho cả cá nhân lẫn xã hội , vì nó tháo tung những sợi dây liên kết vô hình .
Mọi trạng thái đều ma quỷ nếu đặt không tưởng lên trên hiện thực, đưa cái bất thường lên trên cái bình thường , đưa ảo tưởng lên trên cái thực tế. Trạng thái này , trong bản thân sự vô sinh của nó chỉ có một cách giải quyết , đó từ bỏ hoàn toàn bằng cách phá bỏ hoàn toàn .
Có một dạng cô đơn mà đặc điểm của nó là con người sống trong sự cô đơn ấy tự chứng minh mình đứng ngoài xã hội. Không hoàn toàn tự nguyện, nhưng cũng không hoàn toàn cần thiết phải như thế; có cả hai điều trên và nhiều hơn cả hai điều trên.
Gọi là cô đơn tự nguyện, bởi hắn có thể quay trở lại cộng đồng , nhưng hắn từ chối điều này . Gọi là cần thiết, bởi nguyên nhân của việc tự tách mình ra ấy , không phải vì bệnh tật, không phải vì xung khắc,không phải vì say mê một chủ nghĩa ma quỷ, mà là một dạng của sự đòi hỏi đối mặt với cộng đồng , với những gì cộng đồng không đem lại . Nhưng so với cả hai nội dung trên, sự cô đơn này lớn hơn hẳn, bởi đây không phải một sự vụ cá nhân riêng lẻ, mà chính là việc của cộng đồng.
Cái cô đơn này bắt đầu từ những nhu cầu cao hơn hẳn, từ sự phản đối cái tinh thần thấp kém trong cộng đồng , hắn từ chối sự thống trị của cái hời hợt, nông cạn , của những thị hiếu tầm thường. Giữa đòi hỏi của các lý tưởng và cái chung luôn luôn có mâu thuẫn, bởi cái chung không xây dựng từ các lý tưởng mà từ các nhu cầu sống trong con người . Còn lý tưởng lại đòi hỏi chính sự từ bỏ các nhu cầu sống ấy.
Đây là một dạng hành vi muốn xây dựng xã hội từ tinh thần cao cả, sẵn sàng chọn lựa sự từ bỏ vì lợi ích chung , đây là hành vi của bậc vĩ nhân . Con người này bước ra khỏi cộng đồng vì những nhu cầu cao cả hơn , đó là sự cô đơn của bậc vĩ nhân .
Các nhà tiên tri trong lịch sử , các tấm gương của thi nhân trong thời hiện đại đều chỉ ra ý nghĩa bên trong của sự cô đơn cao cả này. Điều quan trọng nhất ở đây là : kẻ chọn sự cô đơn cao cả ấy không vì quyền lợi của mình , mà chính là chống lại quyền lợi của mình , để vì quyền lợi của cộng đồng. Chính vì thế , giữa kẻ cô đơn cao cả và cộng đồng là hoàn toàn không có khả năng hòa giải.
Cộng đồng thừa hiểu kẻ cô đơn có lý , và một chừng mực nào đó chấp nhận những đòi hỏi cùng nhu cầu cô đơn của hắn là đúng.
Sự thật nằm về phía kẻ cô đơn, và nhu cầu sống , hay đúng hơn khả năng nâng cấp sự phát triển nằm ở phía kẻ đó. Trong trường hợp này , kẻ cô đơn theo đuổi một tính người tuyệt đối . Đó là một sự cô đơn lương thiện một thân một mình đối đầu với một cộng đồng tha hóa , thậm chí hắn phải chứng minh nhân cách bản thân hắn trước cái cộng đồng kia .
Socrates, các bậc Thánh , các tông đồ , các nhà nhân văn, các nhà châm biếm người Anh, các nhà tư tưởng kỷ Ánh sáng , một Hölderlin, một Nietzsche từng đòi hỏi lợi ích sống , lợi ích tinh thần vĩnh cửu cao cả, hay đúng hơn, đòi hỏi quyền con người của chính họ.Và thái độ của cộng đồng luôn là không bao giờ muốn thừa nhận chân lý của các cá nhân đối lập . Không phải vì cộng đồng không nhận ra các lý tưởng này, mà chỉ vì cộng đồng , thông qua những người đại diện của nó , không bao giờ từ bỏ bản thân và không muốn thay đổi khuôn mẫu của họ. Bởi vậy sự chống đối là luôn có , như một nhu cầu cần phải có, còn người ra yêu sách thì cảm thấy họ có quyền đòi hỏi một-cái-chưa-có. Khát vọng này là một biểu hiện chống đối, đứng ngoài và cao hơn cộng đồng , nó chỉ ra dấu hiệu của một lối sống khác, mang tính cảnh báo cho cộng đồng về những điều tồi tệ sẽ xảy ra trong tương lai .
Không phải lúc nào cộng đồng cũng sẳn sàng thừa nhận tất cả . Cộng đồng qua người đại diện của nó luôn tin rằng : nếu thiếu cộng đồng , không có cuộc sống.
Trong thực tế , quả là như vậy. Một cuộc sống con người hiện thực, sống động không tồn tại ngoài cộng đồng.
Những đại diện cho cộng đồng và những nhà đạo đức của nó tin rằng : cô đơn dù dưới dạng nào cũng là một hiện tượng xã hội dị giáo lớn nhất. Đặc biệt , lý do để cô đơn càng lớn , càng không thể tha thứ. Cô đơn là vô ích , là không có lí , là không vì lợi ích chung , sau rốt nó vẫn không phải là kẻ đúng. Nó cần phải thất bại trong sự lập dị này. Đối với nó , đây là số phận, là ý chí, là sự bắt buộc, là sự kết án, là vị thế nó đã chọn lựa : đó chính là ý nghĩa đời sống của nó.
Nhưng cũng vì thế mà cộng đồng không bao giờ hòa giải với sự cô đơn . Cộng đồng có thể tha thứ cho kẻ ác, nhưng với một người, trong cái cô đơn cao cả của mình , muốn xây dựng thành công một đời sống tinh thần cao hơn, tích cực hơn, kẻ đó không bao giờ được tha thứ. Lịch sử đầy rẫy những ví dụ về trường hợp này.
Sự cô đơn cao cả của bậc vĩ nhân có sự khác biệt với sự cô đơn hiện sinh trong triết học của Jasper.
Cô đơn hiện sinh không bao giờ chấm dứt, bởi vì đó là hậu trường vĩnh cửu của cộng đồng , là góc tiêu cực không thể thủ tiêu của mọi sự tiếp cận, giao tiếp, gặp gỡ. Cái gọi là "quan hệ" chỉ có thể hình dung trên nền tảng của cô đơn .
Cô đơn hiện sinh như một khả năng, luôn luôn rình rập trong bản thân con người , cộng đồng bất lực với nó, khi nó vượt lên và tan chảy trong các mối quan hệ.
Cô đơn hiện sinh là tiêu cực siêu hình của cộng đồng , như một khả năng thông thường , lúc nào cũng tồn tại , nhưng không bao giờ biến thành phổ biến.
Cô đơn hiện sinh là sự cô đơn như một khả năng của sự sống.
Từ những suy luận rời rạc trên , ta có thể hiểu rõ hơn về cái mà Byron gọi là sự cô đơn đô thị , hay cô đơn hiện đại. Nó không là cô đơn của kẻ bất lương hay bệnh thần kinh , không là sự cô đơn của kẻ xung khắc, hay cô đơn cao cả , hoặc cô đơn hiện sinh.
Nó có sự khác biệt cơ bản , đó là chỗ mà Wordworth nói về "lonely place - cõi cô đơn" để bình yên Thiền quán , là sự cô đơn tuyệt đối của các Thiền sư .
Wordworth thống trị "cõi cô đơn-lonely place” của ông ở bìa rừng , giữa những ngọn núi ,ông tháo bỏ sự đơn độc, giao tiếp trực tiếp với bản thân , nói theo ngôn ngữ hiện sinh , thông qua đó , ông gặp "sự sống lớn" trong vũ trụ.
Đọc sách khi đi du lịch, lúc rảnh rỗi ở trong gia đình cũng đọc sách , con người hiện đại coi đây là cách thức tạm thời duy nhất tách rời sự cô đơn .
Đặc điểm của cô đơn hiện đại chính là sự xuất hiện nỗi cô đơn theo cách hàng loạt , một triệu chứng tổng quát, một hiện tượng xã hội. Chưa bao giờ kẻ cô đơn lại đông đến thế, như ngày nay trong các thành phố hiện đại. Cô đơn trở thành một trạng thái xã hội.
Để bớt cô đơn , người ta tìm đến với thiên nhiên . Do vậy trong thời gian gần đây , đi du lịch, tham gia thể thao trở thành một hiện tượng đám đông.
Từ những thập niên sáu mươi của thế kỉ trước , con người đô thị đã buồn chán trong các chiều chủ nhật . Sự buồn chán này là cái gì vậy? Đó là sự đơn độc. Bầu không khí cô đơn ngột ngạt bao trùm thành phố. Tất cả mọi người như chỉ còn lại với bản thân. Như thể sự tiếp xúc tập thể, các mối quan hệ, xã hội, nhà nước, gia đình, cộng đồng chưa hề tồn tại vậy .
Khi một cộng đồng hoàn toàn chia rẽ, các mối dây liên hệ bị hư hoại, con người lập tức cô độc. Trong từng con người và với tất cả mọi người , không gì có thể cứu giúp , khi một biển các cá nhân đã làm phân hóa mối quan hệ họ hàng, truyền thống tinh thần lâu đời , và biến những giá trị này thành những cá nhân chủ quan. Hiện tượng này có thể thấy rất rõ trong các xã hội xã hội chủ nghĩa .
Không như nhiều người đã hiểu nhầm , chủ nghĩa xã hội không phải là một phong trào tập thể, mà là phong trào của một khối liên kết bởi các cá nhân theo đuổi một í chí chung . Toàn bộ vấn đề của nó là cá nhân, chứ không phải là cộng đồng. Một dạng cá nhân đã bị phân hóa, một dạng sống cá nhân bị tách rời hoàn toàn với nhau , và biến thành kẻ cô đơn.
Chủ nghĩa xã hội không là một hình thức sống của cộng đồng , vì nó không do khát vọng sinh trưởng bồi đắp , mà đó là chỉ là hệ tư tưởng của một con người tuyệt vọng vì bị cô đơn hóa triệt để , là kẻ ném mình vào một nhiệm vụ tưởng tượng của đời sống , không để tạo dựng một hiện thực dành cho nó, mà ném mình vào một nơi hoàn toàn cô đơn . Từ sự cô đơn hóa , nó sẽ tự phá và tự hủy .
"Perdre sa personnalité" (mất nhân cách của mình) đây là khẩu hiệu nội lực của cái khối cá nhân bị cô đơn hóa . Nó tưởng rằng cái nhân cách riêng của con người sẽ cản trở bước tiến vào xã hội tập thể , vì vậy nó kêu gọi thủ tiêu chủ nghĩa cá nhân bằng cách thủ tiêu nhân cách .Trong xã hội ấy không có tâm hồn cộng đồng , và vì thế sự cô đơn có trở thành hiện tượng đại chúng. Cá nhân và cộng đồng đối mặt, dù chiến đấu hay loại trừ nhau, hay đứt đoạn lẫn nhau, nhưng mọi giá trị không còn cùng nhau nữa. Sự tiếp xúc trong thiên nhiên và trong tinh thần cũng đầy vấn đề, nó trở nên tạm bợ, lỏng lẻo, phức tạp, thậm chí trong những sự tiếp xúc này luôn có một ý nghĩa "chạy trốn" nào đó.
Con người từ sự cô đơn , chạy trốn vào thiên nhiên, vào sách vở , vào các thú vui bình dân ...Con người ném cả cuộc đời mình vào nỗi cô đơn mênh mông của chính mình .







Đặt làm trang chủ
Giới thiệu
Lên trên đầu