Thơ Thiền là một bộ phận của văn học Việt Nam , dòng thơ này hiện đang tiếp tục phát triển trên cơ sở của Thơ Thiền Trung Đại và trong môi trường văn học Hiện Đại. Thơ Thiền Việt Nam trung đại thuộc về các tác giả-thiền sư của các thiền phái : Tì Ni Đa Lưu Chi , Vô Ngôn Thông , Thảo Đường , Trúc Lâm ..., trong đó đỉnh cao được nhắc đến là Tuệ Trung Thượng Sĩ (1230-1290)
Đến thế kỉ 15 , trước sự lấn lướt của Nho Giáo , đạo Thiền lui về ẩn nơi thôn dã , hình thành tư tưởng Thiền-Tịnh-Mật . Giai đoạn này những tập thơ Thiền xuất hiện không nhiều ...Hơn năm thế kỉ từ Lê đến Nguyễn , chỉ có thể chọn ra một số ít bài thơ Thiền tiêu biểu .
Đến đầu thế kỉ 20 , cùng với phong trào chấn hưng Phật Giáo , đã khiến nhiều tác giả có cảm tình với Thiền học , nhìn chung thơ Thiền đã có khởi sắc qua các thiền sư thế hệ Phổ Huệ (Bình Định) , Tịnh Trai (Vĩnh Long) , Tâm Tịnh , Giác Viên , Tâm Minh , Viên Thành ( Huế ) ...nhưng chưa nhiều ...
Trong thời gian này , thi ca Việt đã diễn ra sự tranh chấp giữa Thơ Mới và Thơ Cũ , và Thơ Mới đã thắng thế với nhiều thành tựu của phong trào Thơ Mới ... Thơ Mới có nhiều bài phảng phất hương vị Thiền của một số tác giả như Huy Cận , J Leiba , Vũ Hoàng Chương ...
Sau năm 1945 , cùng với sự ra đời của nhiều hội Phật học , báo chí Phật giáo phát triển mạnh ở miền Trung và miền Nam , nhiều bài thơ có âm hưởng Thiền được đăng trên các tạp chí như Viên Âm , Bồ Đề , Từ Quang , Hoằng Pháp , Hải Triều Âm ... Các tác giả làm thơ Thiền tiếp xúc với văn hóa phương Tây và bắt đầu có những cách tân thơ Thiền theo xu thế hiện đại .
Cuối thế kỉ 19 đầu thế kỉ 20, Thiền Đạo dần dần được giới thiệu sang phương Tây , trong đó có cuốn Thiền Luận nổi tiếng của thiền sư D.T Suzuki (1870-1966) .
Nhiều nhân vật có tên tuổi ở phương Tây đã tiếp xúc với văn hóa Thiền và đã đưa yếu tố thiền vào sáng tác của mình như : F. Nietzsche , S. Kiekegaard , R. Martino , Allen Ginsberg , C.G. Jung , Erich Fromm , R.H. Blyth , Thomas Erton , J.D. Salinger , Jack Kerouac , Hubert Benoit , Alan W. Watts , Paul Demieville , Albert Shweitzer ,Joseph Goldstein , Herbert Benson ...
Ở đây , cơ bản của sự tiếp xúc , ngoài sự hội nhập văn hóa có xu hướng toàn cầu hóa , còn có sự gần gũi của một số quan điểm triết học phương Tây với triết lí Thiền đạo .
Những quan điểm này đã gặp nhau trong những vấn đề cơ bản của triết học , để có thể thông cảm được với nhau qua từng cặp đối sánh .
Ví dụ : " Bản thể luận tương đối " có vẻ gần gũi với " Chân Như" , " Hiện Tượng Luận" , "Phân Tâm Học" có thể thông cảm được với "Duy Thức Học ", quan niệm "Hiện Sinh" có thể dùng khái niệm "Hiện tại của Thực Tại" dưới cái nhìn của Thiền quán để diễn tả . Lối " Viết Vô Thức" của các nhà văn hậu -hiện đại khá gần với "Quán Tâm Hành" (quán dòng tư tưởng phi-tư-lương) của thiền đạo , khái niệm "Cá Biệt Thể " có thể cảm nhận qua "con người tự tại" ...
Đã có ảnh hưởng của tư duy Thiền lên văn nghệ phương Tây , Stephan Addiss đã tái xác định sự gần gũi của văn hóa Đông-Tây , nhấn mạnh nơi Thiền đạo . Những trào lưu văn nghệ như phái Biểu Hiện , Trừu Tượng , Hội Họa Hành Động , Nghệ Thuật Khái Niệm ... đã có những chuẩn bị cho các họa sĩ hậu -hiện đại phương Tây tìm đến với tính "đơn giản gợi cảm" của Thiền Họa , Thư Pháp Thiền .
Đã có những bài thơ Thiền ở phương Tây của các thi sĩ Allen Ginsberg , Tom Savage , Tenyson...
Vào những năm sáu mươi của thế kỉ 20 , triết học phương Tây ồ ạt vào Việt Nam , và thơ thiền Việt Nam cũng dần dần tiếp nhận những điểm gần gũi với yếu tố thiền nơi triết Tây và dần hiện đại hóa .
.
Đã có nhiều tu sĩ Phật giáo và Phật tử có học vị cao , các tạp chí văn chương xuất hiện nhiều , làm ra đời những bài thơ Thiền Hiện đại với thể cách không còn quá bó buộc vào các thể thơ cổ Trung Hoa , không nhất thiết phải theo vần đối nghiêm chỉnh , và nhất là đã có những thay đổi quan trọng về tư duy thơ Thiền .
Và dĩ nhiên là với tính kế thừa , ta còn gặp một số mô thức truyền thống như thất ngôn bát cú , ngũ ngôn , tứ tuyệt , nhưng nói chung thì vẫn mang phong cách hiện đại . Đặc biệt là sự xuất hiện của thơ thiền làm theo thể lục bát của Bùi Giáng , Phạm Thiên Thư ...
Thơ Thiền hiện đại vận dụng mĩ học của Vô Ngôn như là một phương thức biểu hiện thiền lí , ngôn ngữ thơ có sự chen vào những khái niệm triết Tây .
" Cảm ơn một kiếp làm người
Cho ta học một nụ cười viên thông "
( "Cảm ơn cuộc đời"-Tiểu Viên)
" Về xem trăng ngã màu thiền
Nhịp chèo vô thức động miền tịch hư
Nguyệt tà vẽ bóng chân như
Tình em lá nỏn về từ mùa xuân "
("Mái chèo vô thức"-Minh Trang)
Có thể thấy thơ Thiền truyền thống chủ yếu nói về cái Tôi trữ tình trực tiếp . Ở thơ Thiền hiện đại thường thấy xuất hiện nhân vật thứ hai , có cảm tưởng như chủ thể phân ra thành "chủ thể-đối tượng" , "ngươi và ta" .
Khi từ biệt thiền sư Thanh Từ , thiền sư Nhất Hạnh đã đề thơ lên vách Thiền Duyệt Thất :
"Tan biến dòng sinh tử
Duy còn ngươi với ta "
Với các thi sĩ -cư sĩ , những bài thơ thiền hiện đại của các tác giả này còn thấy xuất hiện nhân vật EM mơ màng giữa "bụi đỏ", "phù vân"...
" Em theo lối cỏ ngàn xưa ấy
Khuất giữa phù vân khuất tuổi tên "
("Theo dấu mục đồng"- Văn Anh)
Đọc hai câu thơ trên ta có cảm giác như cùng đi trên một đoạn đường trong bức tranh Thiền "Thập Mục Ngưu Đồ" , và "EM" ở đây có thể là TA không-ngụy-trang , không-tên-tuổi . Em có thể là tinh-túy-của-trí-huệ-tối-thượng . Là Chân Như , cùng TÔI trong cảnh giới thẩm thấu-tương nhập !
"Tôi biết Em còn đó và Tôi còn đây
Diệu Hữu ca lời chân không mầu nhiệm "
("Vòng tay nhận thức"-Nhất Hạnh)
ThơThiền hiện đại cũng vô ngại khi nói đến tình yêu , ở đây câu tục ngữ "thương người như thể thương thân" được đẩy lên cao độ mới :
"Ta yêu người ngây dại
Yêu người là yêu tôi "
("Rơi rớt"- Nguyễn Hoàng Kiên Nhật )
"Dường như môi của non ngàn
Đặt lên vạn đại nụ hôn ban đầu"
("Pháp Hoa"- Miên Long)
"Em từ rửa mặt chân như
Nghiêng soi hạt nước mời hư không về "
(Phạm Thiên Thư)
Thơ Thiền hiện đại cũng không ngại khi nói đến sầu đau , phiền não...
" Phải chăng còn tiếng đàn xưa vọng
Réo rắt luân hồi ở cõi sau
Mong ta hóa kiếp làm mây trắng
Bay giữa tầng cao thoát nẻo sầu "
("Mộng chiều thu"- Lê Trọng Minh)
Tuy nhiên , có vẻ như dù hiện đại hóa đến đâu , thơ Thiền cũng giữ tính truyền thống cốt lỏi của nó , đó là theo một phương thức sáng tác riêng , mang tính VÔ TÁC , LÌA ĐỐI ĐÃI HAY-DỞ để viết . Vì vậy thơ Thiền chỉ có cảm nhận chứ không thẩm định qua chất lượng nghệ thuật và trình độ nhận thức Thiền học . Nó cảm nhận theo lối trực tiếp :" nóng-lạnh-tự-biết"
Điều này có thể thấy rất rõ : có khi một thiền giả cư sĩ có những bài thơ thiền chất lượng nghệ thuật cao , cũng có những thiền sư trứ danh lại không chú trọng mấy đến hoa mĩ của ngôn từ.
Người ta chỉ có thể cảm nhận thơ Thiền qua ý thơ , đại khái có hai loại : một loại xuất phát từ cái đẹp Bản Chất / Thể / Tánh , đi đến cái đẹp Hiện Tượng / Tướng /Dụng . Và một loại đi ngược lại : từ cái đẹp của Tướng/Dụng/Hiện Tượng đi đến cái đẹp của Thể/Tánh/Bản Chất .
Thơ Thiền hiện đại hiển hiện một Thực Tại , cái thực-tại-phân-li và thực-tại-không-thể-phân-li . Do vậy thơ Thiền hiện đại có thể đem lại cho người đọc những cảm nhận không giống nhau , nhưng khuynh hướng chung là luôn đem lại sự thoải mái , nhẹ nhàng , thú vị .
Đó là tác dụng của cái VÔ DỤNG trong thơ Thiền .







Đặt làm trang chủ
Giới thiệu
Lên trên đầu