vietnamese Tiếng Việt english English
Hôm nay:
Tin mới đăng:

tạp văn : Lòng tin

tranh Wifredo Lam

    

   "Lòng tin"có thể tạm hiểu là : sự chờ đợi rằng những người hay những tổ chức có liên quan sẽ hành động trong khuôn khổ những giá trị chung hay những quan niệm luân lý nào đó. Nói cách khác , lòng tin giả định rằng : sự việc sẽ diễn ra một cách tích cực , hay đúng theo sự chờ đợi. 
     Đặc điểm quan trọng ở đây là sự có mặt của một khả năng hành động khác, và đó cũng là chỗ phân biệt giữa "lòng tin" và "hy vọng". 
     Lòng tin dựa trên sự đáng tin cậy, sự yên tâm và sự trung thực. Nó thể hiện ra trong hiện tại nhưng lại hướng đến những gì xảy ra trong tương lai.
     Chúng ta vẫn thường được khuyên: “Hãy giữ vững lòng tin!” , như lời mời gọi của một phẩm tính nhân loại đích thực. 
     Và chúng ta vẫn thường tin rằng : lòng tin há chẳng phải là cơ sở mạnh mẽ cho quan hệ tốt đẹp giữa người với người, dù lòng tin ấy đã bao lần bị chà đạp, bởi người khác , và bởi chính chúng ta ? 

    Giá trị nhân loại ấy sẽ trở thành một giá trị giả, khi lòng tin cậy bị đánh đồng với lòng tin mù quáng . “Hãy tin anh!” sẽ trở thành “Tôi không còn tin anh nữa!” , thường thấy trong ái tình .   
     Khi yêu , người ta dễ dàng tin vào những lời hứa ."Tin" thay chỗ cho biết, không khác gì ta tin một người mà không hề "biết" họ. Chỉ khi ta "biết" họ thì ta mới có thể biết được chiều hướng hành động của họ có đáng để ta tin hay không . 
     Để nhận ra tầm quan trọng của cái "biết" vốn bắt rễ sâu trong "lòng tin", nhiều tác giả phương Tây cố lần ra từ nguyên của chữ "Trust" trong tiếng Anh hay chữ "Vertrauen" trong tiếng Đức. Cả hai đều bắt nguồn từ chữ gothic “trauan” có nghĩa là “mạnh mẽ, vững chắc như một cây cổ thụ”. Nghĩa bóng của nó là: đúng đắn, chân thật, đích thực . Mạnh mẽ, chắc nịch như cây cổ thụ là hình ảnh và biểu trưng đầy sức mạnh cho sinh lực bền vững, luôn sáng tạo và tiến hóa. 
   
Như thế, việc có được lòng tin đích thực , hay ngược lại, tạo được lòng tin đích thực nơi người khác , là gian nan hơn khi ta mới thoạt nhìn. Cũng như đối với mọi giá trị bền vững đích thực . Một khi lòng tin đích thực đã đạt được thì lòng tin ấy không dễ bị lạm dụng và lợi dụng, vì nó dựa vững chắc vào cái biết đích thực.

     Nếu ở bình diện cá nhân, lòng tin cần nhiều đến sự hiểu biết thì ở bình diện xã hội, sự việc phức tạp hơn nhiều , vì trong xã hội , quan hệ giữa người và người ngày càng ít dựa vào sự hiểu biết trực tiếp. 
     Ngay từ đầu, lòng tin là một nguồn lực xã hội giúp cho hoạt động phối hợp giữa người với người có thể hình thành trong điều kiện hầu như hoàn toàn vô danh.
     Trong xã hội hiện đại, người ta chịu tác động bởi những cái gọi là "hệ thống trừu tượng", tức những cơ chế độc lập với đặc tính của những cá nhân. Chúng có giá trị như những hệ thống ký hiệu, và người ta chỉ làm việc với những ký hiệu ấy. Chẳng hạn khi ta bỏ lá phiếu cho những cá nhân xa lạ, hay sẵn sàng giao dịch tài chính với những tổ chức mà ta không hề và cũng không cần quen biết. Môi trường giao dịch này là đáng tin cậy , chỉ nhờ có lòng tin rằng : nó được thừa nhận như là “ký hiệu” phổ biến , mà cá nhân ta không tạo ra , hay không tài nào thẩm tra được sự thừa nhận ấy. 
     Một hệ thống trừu tượng khác chính là hệ thống của những chuyên gia khoa học , được ta thường xuyên “vay mượn” thẩm quyền và kiến thức của họ. Các hệ thống ấy sở dĩ vận hành được là nhờ ta , tuy không biết hoặc biết rất ít thông tin , giả định rằng : chúng là tử tếtốt lành
     Niklas Luhmann, một trong những ông tổ của "Lý thuyết hệ thống" đã nhận ra ở đây một phép “biện chứng” của lòng tin , ông cho rằng : lòng tin là “cơ chế để giảm thiểu tính phức tạp của xã hội”, thậm chí là một sự “mạo hiểm được tạm ứng” từ phía người dân không đủ thông tin và thì giờ . 
     Mặt khác, nếu việc mất lòng tin được hiểu thông thường như là trái nghĩa với lòng tin, thì, cũng từ góc độ xã hội học, nó có sự “tương đương về chức năng” như lòng tin, vì nó cũng giúp giảm thiểu tính phức tạp để người phó thường dân có thể tỏ thái độ tức thời , dựa vào sự mẫn cảm và lương tri lành mạnh của mình. 
     Sự có mặt đồng thời của lòng tin và mất lòng tin không phải là một mâu thuẫn mà phụ thuộc vào hoàn cảnh xã hội hiện đại mang đặc tính phức tạp.

     Cả hai tương đương về chức năng, nhưng tất nhiên không phải là một .
     Ngày nay người ta thường nói về bốn loại vốn liếng ảnh hưởng quyết định đến cấu trúc xã hội , đó là : vốn kinh tế, vốn văn hóa, vốn xã hội và vốn biểu trưng (mang lại sự thừa nhận và uy tín, danh giá), trong đó vốn xã hội ngày càng có vị trí quan trọng. 
     Khác với vốn con người chỉ liên quan đến con người tự nhiên, vốn xã hội nói đến các mối quan hệ giữa họ với nhau, và trở thành đặc điểm chủ yếu của đời sống cộng đồng. 
     Vốn xã hội hình thành từ sự sẵn sàng hợp tác giữa những tác nhân, tức giữa những người công dân với nhau. Nhưng, thước đo và cơ sở của vốn xã hội lại là "lòng tin xã hội". 
     Chỉ trong không khí tin cậy, ta mới sẵn lòng tin vào người khác, nhất là vào người xa lạ, mà không cần chờ đợi hay đòi hỏi sự “đền đáp” tức thời, vì ta tin rằng nhất định có những người xa lạ khác sẽ đền đáp cho ta. 
     Vì thế, có nhiều hoặc có ít vốn xã hội và lòng tin xã hội ,sẽ giảm thiểu hoặc gia tăng phí tổn xã hội về nhiều phương diện và sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến sự ổn định và tăng trưởng kinh tế. 
     Nguy hiểm hơn, việc mất lòng tin xã hội sớm muộn sẽ làm suy giảm tiềm lực đáp ứng yêu cầu của cả hệ thống: do thiếu lòng tin, nhiều yêu cầu vốn chỉ có thể được thỏa mãn ở dài hạn sẽ đòi hỏi phải được đáp ứng cùng một lúc và trong thời gian ngắn, điều ấy sẽ phá vỡ các khả năng đáp ứng của toàn hệ thống. Dường như chúng ta đang ở đúng vào thời điểm nguy kịch này.

     Như thế, chừng nào người ta còn dành lòng tin cho các định chế, chúng mới có thể xác lập được sự đáng tin cậy trong hành động. 
     Tự bản thân các định chế là không đủ để mang lại lòng tin cũng như để xây dựng các hình thức giao tiếp dân chủ, đoàn kết. Trong thực tế, ta vẫn chưa có được mục tiêu chính trị được cắm sâu vào lòng dân, chưa có được cái ý thức tự đứng vững trên đôi chân của mình… Nhân dân nước ta không có tinh thần dân chủ. Ta có một hình thức chính thể tự xưng là dân chủ, nhưng lại được thiết kế để bóp nghẹt dân chủ ,hơn là khích lệ ý thức dân chủ .
     Các kinh nghiệm lịch sử  cho thấy sự cần thiết phải nêu bật những điều kiện , để biến sự thừa nhận những định chế một cách đơn thuần hình thức , thành một sự thừa nhận đích thực và thành thực. 
     Sự ổn định của một chế độ xã hội vẫn chưa được bảo đảm , chừng nào người ta chưa thể đoán chắc rằng nó sẽ được nhân dân tin tưởng và bảo vệ khi lâm vào những thời kỳ khủng hoảng hoặc bị suy yếu về năng lực chế tài (do tham nhũng, thối nát, bất lực v.v…).

     Lòng tin không thể mua mà có, không thể ra lệnh mà được, không thể học hay dạy , mà cần thời gian để thử thách ở cả hai chiều , bời "tin" có nghĩa là "tin nhau". 
     Lòng tin không thể mua bán nhưng lại cần phải được “đầu tư” lâu dài, ví như không ai có thể tiếp tục rút tiền khỏi tài khoản để tiêu xài thoải mái mà không chịu khó thường xuyên đóng tiền vào. 
     Có vẻ lạ thường, nhưng có vẻ như  lòng tin gắn liền với một loạt những nghịch lý nan giải. Chúng ta vẫn phải hành động đôi khi mù quáng khi không có lựa chọn nào khác. Trong khi đó, lòng tin lại đòi hỏi một sự “dấn thân” nào đó . Nói khác đi, người có lòng tin bao giờ cũng hành động một cách tự nguyện dù không thể “biết” chắc về điều mình làm. 
     Khi lòng tin bị tổn thương , ta nghĩ đến việc đi tìm những lựa chọn khác, và chính điều đó cho thấy trong lòng tin bao giờ cũng đã bao hàm một chút gì đó ngây thơ, thiếu suy xét , như một yếu tố cấu thành. 
     Đối với không ít người, đó là một giá quá đắt và vì thế, họ muốn giảm , hơn là muốn tăng thêm lòng tin . 
     Nhưng mặt khác, ta cũng không nên đánh giá thấp những nguy hiểm nảy sinh , khi muốn thay thế hoàn toàn lòng tin bằng sự kiểm soát . Các đảng Cộng Sản khi chưa cướp được chính quyền , họ luôn kêu gọi lòng tin của dân chúng bằng những lời hứa hẹn đem lại tự do cho dân chúng , khi cướp được chính quyền rồi , họ nói : tin tưởng là tốt, kiểm soát thì tốt hơn . Họ kiểm soát dân chúng bằng cách tước đoạt tự do của toàn xã hội . 
     Sự mất tự do sẽ là hệ quả sâu xa và nặng nề hơn người ta tưởng rất nhiều .

     Trẻ em đặt trọn lòng tin vào người lớn cho tới khi chúng thất vọng. Đó là cái giá khá đau đớn phải trả cho sự trưởng thành, tức cho sự thức tỉnh và mất ảo tưởng. Nhưng, nếu được hưởng một nền giáo dục tốt, vết thương ấy sẽ được chữa lành, thậm chí không để lại sẹo, mà còn thăng hoa thành tinh thần hoài nghi khoa học. Tinh thần ấy không làm thui chột lòng tin, trái lại, khi đã đủ mạnh, nó giúp giữ vững lòng tin vào những gì xứng đáng để tin.

     Điều này có lẽ cũng đúng đối với cả một cộng đồng dân tộc , khi cộng đồng ấy không để mình ngã quỵ trước sự mất lòng tin nhờ biết dựa vào sức mạnh phòng vệ của một xã hội dân sự phát triển .  
     Thi hào Goethe đã nói : “Phải tự tin mới có thể tin vào người khác!”
     Thế nhưng chúng ta hiện nay có gì để tự tin ?